Phân loại DSLR

Phân cấp các dòng máy ảnh DSLR Nikon, Canon, Sony, Olympus, Pentax, Sigma

PHÂN CẤP CÁC DÒNG MÁY ẢNH DSLR

Bên cạnh dòng máy ảnh compact gọn nhẹ dành cho thị trường người dùng bình dân và không có yêu cầu quá cao về tính năng, hầu hết các hãng sản xuất máy ảnh đều có dòng máy ảnh kỹ thuật số ống kính rời (DSLR) dành cho người dùng chuyên nghiệp. Và đây chính là địa hạt để các hãng đua tranh về công nghệ máy ảnh số.

Phân loại DSLR

Phân loại DSLR

Xét về số lượng sản phẩm, máy ảnh DSLR không nhiều và đa dạng như máy ảnh compact, thậm chí có hãng chỉ sản xuất một, hai sản phẩm. Do đó, việc phân biệt chủng loại cũng như thứ hạng của các dòng máy DSLR cũng đơn giản hơn so với máy ảnh compact.

Với máy ảnh compact, các hãng có xu hướng đặt tên sản phẩm càng nhiều số nhiều chữ thì càng cao cấp, đắt tiền, ví dụ các dòng Sx, Sxx (như S1, S2, S60, S70) của Nikon rẻ tiền hơn các dòng Sxxx, Sxxxx (như S710, S8100). Tuy nhiên, máy ảnh DSLR được đặt tên theo xu hướng ngược lại, nghĩa là càng ít số và chữ, và số càng nhỏ, thì càng cao cấp.

Quy tắc đặt tên này có thể thấy rõ ở các dòng máy ảnh DSLR của Nikon, Canon. Đây cũng là hai hãng máy ảnh có nhiều máy ảnh DSLR nhất. Tuy nhiên, sẽ vẫn có một số ngoại lệ, các dòng máy ảnh mới được sản xuất sẽ có xu hướng được tích hợp nhiều công nghệ hiện đại hơn và do đó cũng có thể được xếp hạng cao hơn các dòng máy đời cũ. Các phân tích dưới đây sẽ cho thấy rõ hơn điều này.

Nikon                                           

Nikon đã chế tạo một số máy ảnh SLR kỹ thuật số đầu tiên (DSLR) cho một dự án nghiên cứu của NASA vào năm 1991. Sau khi cùng hợp tác với Kodak vào những năm 1990 để sản xuất máy ảnh DSLR dựa trên thân máy ảnh chụp phim của Nikon, hãng đã cho ra mắt model DSLR Nikon D1 dưới tên riêng của mình vào năm 1999. Mặc dù chỉ sử dụng một bộ cảm biến ánh sáng APS-C có kích thước bằng 2/3 kích thước của phim 35 mm (sau này Nikon gọi là “cảm biến DX”), D1 là một trong số các máy ảnh kỹ thuật số đầu tiên có chất lượng hình ảnh đầy đủ và giá thấp dành cho các nhiếp ảnh gia (đặc biệt là phóng viên báo chí và các nhiếp ảnh gia thể thao) để sử dụng như là một lựa chọn thay thế cho máy ảnh chụp phim SLR (hoán đổi ống kính được). Cho tới giữa những năm 2000, máy ảnh DSLR của Nikon vẫn thua Canon về doanh số, bởi Canon có nhiều model máy DSLR sử dụng cảm biến có kích thước bằng phim 35mm, trong khi tất cả các máy DSLR Nikon sản xuất trong khoảng 1999-2007 đều chỉ sử dụng cảm biến DX có kích thước nhỏ hơn.

Năm 2005, sau một sự thay đổi quản lý, Nikon đã thiết kế máy ảnh mới full frame Nikon D3 vào cuối năm 2007 và một vài tháng sau đó là Nikon D700, giúp hãng nhanh chóng lấy lại danh tiếng. Chiếc DSLR tầm trung Nikon D90, được giới thiệu trong năm 2008, là máy ảnh DSLR đầu tiên có khả năng quay video. Kể từ đó, chế độ quay video hiện diện trên nhiều dòng DSLR của hãng ra mắt về sau này, như Nikon D3s, Nikon D7000 và Nikon D3100.

Quảng cáo: Click để mua quần áo hàng hiệu nhiều ưu đãi tại Thời trang Menback: http://menback.com

Bảng dưới đây liệt kê các dòng máy ảnh DSLR của Nikon cho đến nay, có ghi chú thời gian ra mắt:

Thấp cấp(entry-level) Trên mức entry-level Trung cấp(mid-range) Cao cấp(proconsumer) Cao cấp(Professional)
6/1999 D1
2/2001 D1HD1X
2/2002 D100
7/2003 D2H
1/20049/2004 D70
D2X
2/20054/2005

11/2005

D2HS
D50 D70S
D200
6/2006 D2XS
8/200611/2006 D80
D40
3/20078/2007 D40X
D300 D3 (full frame)
1/20087/2008

8/2008

12/2008

D60
D700 (full frame)
D90
D3X (full frame)
4/20097/2009

10/2009

D5000
D3000 D300S
D3S (full frame)
8/20109/2010 D3100
D7000
5/2011 D5100

Ghi chú: ngoại trừ một số model sử dụng cảm biến full frame (FX), tất cả các model còn lại đều sử dụng cảm biến APS-C (DX)

 

Canon

Trước khi giới thiệu máy ảnh SLR kỹ thuật số đầu tiên EOS D30, Canon đã phối hợp với Kodak sản xuất ra 4 máy ảnh DSLR bằng cách thay đổi một số chi tiết của dòng máy ảnh chụp phim EOS-1N của hãng. Cả 4 máy ảnh này đều sử dụng thân máy Canon EOS và do đó đều có thể sử dụng các ống kính EF, trong khi bộ cảm biến hình ảnh và các thiết bị điện tử được thiết kế và xây dựng bởi Kodak. Các máy ảnh này là EOS DCS3 ra mắt tháng 7/1995; EOS DCS1 ra tháng 12/1995; EOS D2000 (còn có tên Kodak DCS520) ra tháng 3/1998; EOS D6000/Kodak DCS560 ra tháng 12/1998.

Sau này, Kodak đã sản xuất mẫu máy Kodak DCS Pro SLR/c vào năm 2004, tương thích với hầu hết các ống kính EF nhưng do Kodak độc lập sản xuất chứ không phối hợp với Canon.

Bắt đầu từ EOS D30, các máy ảnh DSLR của Canon đều có thân máy và cảm biến hoàn toàn được thiết kế và sản xuất bởi Canon (trừ Canon 1D-EOS, sử dụng một cảm biến CCD từ Panasonic). Các máy ảnh của Canon đều sử dụng cảm biến CMOS do Canon tự sản xuất.

Thấp cấp(entry-level) Trên mức entry-level Trung cấp(mid-range) Cao cấp(proconsumer) Cao cấp(Professional)
Q2 2000 D30
Q4 2001 1D
Q1 2002Q4 2002 D60
1Ds (full frame)
Q1 2003Q3 2003 10D
300D
Q2 2004Q3 2004

Q4 2004

1D Mark II
20D
1Ds Mark II (full frame)
Q1 2005Q3 2005 350D 20Da
5D (full frame) 1D Mark II N
Q1 2006 30D
Q1 2007Q3 2007

Q4 2007

400D 1D Mark III
40D
1Ds Mark III (full frame)
Q2 2008Q3 2008

Q4 2008

450D
1000D
50D 5D Mark II (full frame)
Q1 2009Q3 2009

Q4 2009

500D
7D
1D Mark IV
Q1 2010Q3 2010 550D
60D
Q1 2011 1100D 600D

Ghi chú: ngoại trừ các model full frame, các model thấp cấp, trung cấp và dòng cao cấp 7D của Canon sử dụng cảm biến APS-C, còn các model cao cấp professional sử dụng cảm biến APS-H.

 

Olympus

So với Canon và Nikon, số lượng máy ảnh DSLR của Olympus không nhiều, song cũng có đủ các dòng từ cấp thấp cho đến cao cấp, đặc biệt các dòng E-3 và E-5 của hãng được người dùng đánh giá cao.

Máy ảnh DSLR Olympus sử dụng hệ thống cảm biến Four Thirds (có tỉ lệ 4:3, tương đương 17.3 x 13 mm khi so với định dạng phim 35 mm truyền thống). Tỉ lệ này tương đồng với kích thước in tiêu chuẩn 8 × 10. Kích thước cảm biến nhỏ này có thể gây nhiễu hạt khi chụp ở độ nhạy cao và thiếu sáng, nhưng có lợi thế khi chụp tele.

Dưới đây là lịch sử ra mắt máy ảnh DSLR Olympus:

Thấp cấp Trung cấp Cao cấp
Q3 2003 E-1
Q4 2004 E-300
Q4 2005 E-500
Q1 2006 E-330
Q4 2006 E-400
Q1 2007 E-410
Q3 2007 E-510
Q4 2007 E-3
Q1 2008 E-420
Q2 2008 E520
Q1 2009 E-450 E-620 E-30
Q2 2010 E-600
Q4 2010 E-5

 Pentax

Mẫu máy DSLR “nguyên mẫu” đầu tiên của Pentax là MZ-D, còn có tên khác là MR-52, ra mắt tại Photokina tháng 9/2000. Sau đó Pentax đã hủy kế hoạch sản xuất sản phẩm này.

Từ năm 2003 – 2006, Pentax giới thiệu một loạt máy ảnh DSLR có đuôi *ist, trong đó dòng *ist D được xếp hạng cao cấp, dòng *ist DS và *ist DS2 xếp hạng trung cấp; dòng *ist DL và *ist DL2 là các dòng thấp cấp.

Tháng 5/2006, Pentax giới thiệu dòng máy DSLR mới lấy ký hiệu là K, với chất lượng càng về sau càng cao cấp hơn. Pentax dòng K có những model máy sau:

Pentax K100D (2006–2007)

Pentax K110D (2006–2007)

Pentax K10D (2006–2008)

Pentax K10D Grand Prix (2007)

Pentax K100D Super (2007–2008)

Pentax K200D (2008–2009)

Pentax K20D (2008–2009)

Pentax K-m (có tên Pentax K2000 tại thị trường Mỹ ) (2008–2009)

Pentax K-7 (2009– nay)

Pentax K-x (2009– nay)

Pentax K-r (2010– nay)

Pentax K-5 (2010– nay)

 

Sony

Sony bắt đầu sản xuất chiếc máy ảnh DSLR đầu tiên vào năm 2006 với thương hiệu Alpha (thường ký hiệu là α, ví dụ α35, trên thân máy, nhưng cách viết thông thường là A35).

Hãng phát triển các máy ảnh DSLR của mình dựa trên công nghệ máy ảnh của Konica Minolta mà Sony mua lại vào đầu năm 2006. Sony cũng sở hữu 11,08% cổ phần tại hãng  sản xuất ống kính máy ảnh Tamron (Nhật Bản) và cũng hợp tác với hãng này sản xuất nhiều ống kính siêu zoom.

Trong khoảng thời gian từ năm 2006 và 2008, Sony là công ty phát triển nhanh nhất trên thị trường DSLR, đạt 13% thị phần trong năm 2008 để trở thành công ty DSLR lớn thứ ba trên thế giới. Năm 2010, hãng tung ra các model SLT sử dụng công nghệ gương mờ (thay vào vị trí gương lật và lăng kính ngũ giác bằng 1 gương mờ, tăng tốc độ chụp liên tiếp đồng thời giảm kích thước máy), được thị trường đón nhận như là một cải tiến độc đáo trong công nghệ máy ảnh.

Thấp cấp Trung cấp Cao cấp (semi-professional) Cao cấp (professional)
7/2006 A100
9/2007 A700
1/2008 A200A300

A350

9/2008 A900
5/2009 A230A330

A380

9/2009 A850
10/2009 A500A550
2/2010 A450
6/2010 A290A390
8/2010 A560A580
SLT-A33SLT-A55

SLT-A55V (có GPS)

SLT-A35

SLT-A65SLT-A65V (có GPS)
10/2011 SLT-A77SLT-A77V (có GPS)

Ghi chú: Các dòng cấp thấp sử dụng cảm biến CCD, các dòng tầm trung và cao cấp sử dụng cảm biến CMOS. Về kích thước cảm biến, ngoài hai dòng máy chuyên nghiệp A900 và A850 sử dụng cảm biến full-frame, các model còn lại sử dụng cảm biến APS-C (hệ số crop 1.52x).

 

Sigma

Với người dùng Việt Nam, máy ảnh DSLR của Sigma không phổ biến, thậm chí hầu như không có trên thị trường. Một số thông tin dưới đây giúp bạn đọc hiểu đôi chút về thương hiệu máy ảnh này.

Sigma có các dòng máy ảnh SLR chụp phim SA-300, SA-5, SA-7 và SA-9. Máy có hai model máy ảnh compact là DP1 và DP2.

Máy DSLR của hãng gồm SD9, SD10, SD14, SD15 đều sử dụng cảm biến Foveon X3 do hãng chế tạo. Dòng DSLR cao cấp nhất của hãng là SD1 được giới thiệu tại Photokina 2010, sở hữu cảm biến Foveon X3 46MP với hệ số crop 1.5x. Tất cả máy ảnh của Sigma đều dùng ngàm ống kính Sigma SA có cơ chế tương tự ngàm Pentax K và có thể chuyển đổi sử dụng các ống kính Canon EF.

 

Sưu tầm

Tại sao nhân viên bỏ việc

5 lý do nhân viên giỏi bất mãn và bỏ việc

5 lý do hàng đầu khiến các nhân viên cá tính mạnh, có hiệu quả làm việc cao nổi xung và những giải pháp cho vấn đề này.

Gần đây đã có một cuộc tranh cãi sôi nổi khi hai ông lớn trong làng công nghệ thế giới là Apple và Microsoft đã để những lãnh đạo quan trọng của họ là Scott Forstall và Steve Sinofsky ra đi. Hai người này đều được liệt vào những người khó tính và kiêu căng ngạo mạn.   Tiếp tục đọc
Quy luật kỳ diệu của số 3

[Infogram] Quy luật kỳ diệu của số 3

Các diễn viên kịch vui biết là ba thì vui nhộn hơn hai. Các tác giả tiểu thuyết biết là ba thì có nhiều kịch tính hơn bốn. Steve Jobs biết rằng ba thì có tính thuyết phục hơn năm. Mỗi bộ phim, cuốn sách, vở kịch hay bản thuyết trình nổi tiếng đều có cấu trúc ba hồi hay ba màn. Tiếp tục đọc

Thương hiệu

Tên tốt có là Thương hiệu tốt?

Một cái tên tốt có thể là đôi cánh vững chắc giúp cho một thương hiệu bay xa. Tuy nhiên, như thế nào là một cái tên thương hiệu tốt? Từ góc nhìn marketing, ta sẽ có nhiều khám phá thú vị đối với một cái tên thương hiệu tốt…

Từ khóa tốt có thực sự tốt?

Tờ New York Times số ra ngày 25/4/2012 có một bài viết: “Một công ty bán lẻ trên mạng mua một tên miền hoàn hảo. Và rồi tụt dốc” (A Web Retailer Buys the Perfect Domain Name. Then Comes a Letdown). Theo đó, Newark Nut, công ty sở hữu trang web NutsOnline.com, một trong những trang web hàng đầu chuyên bán lẻ đồ hàng khô, hoa quả và bánh kẹo, mới mua lại tên miền Nuts.com với mức giá lên tới vài trăm ngàn USD. Sau đó, công ty đã tiến hành chuyển đổi toàn bộ thông tin từ NutsOnline.com sang Nuts.com.

Vấn đề lập tức xuất hiện. Sau khi chuyển đổi tên miền, trang web bị sụt giảm tới 70% lượng khách vào thăm quan. Phải chăng đó là do chương trình marketing và thông tin chuyển đổi trang web chưa đến với công chúng?

Không hẳn! Sau ba tháng chuyển đổi, số lượng người vào Nuts.com vẫn giảm sút tới hơn 50%. Một cú tụt hậu đáng kinh ngạc.

Sau khi phải đối mặt với tình trạng trang web bị người tiêu dùng quay lưng một cách mạnh mẽ, người điều hành Newark Nut phân trần về lý do chuyển đổi tên: Nuts.com ngắn hơn, và do đó nó dễ nhớ hơn, vì vậy nó có lợi thế hơn NutsOnline.com. Hoàn toàn logic và hợp lý!

Tiếc rằng, lý trí logic và tư duy marketing đôi khi trái ngược nhau.

Vậy tư duy nào sẽ hữu ích trong công tác xây dựng thương hiệu? Thực tế có lẽ là câu trả lời chuẩn xác nhất.

Logic sẽ cho một câu trả lời rằng Book.com phải là nhà sách trên mạng lớn nhất chứ không phải Amazon.com.

Logic sẽ cho một câu trả lời rằng Video.com phải là trang chia sẻ video lớn nhất chứ không phải Youtube.com.

Và logic cũng sẽ cho đáp án rằng Search.com phải là trang tìm kiếm thông tin lớn nhất chứ không phải Google.com.

Theo tư duy logic, ta sẽ dễ dàng đồng ý rằng Book, Video và Search ngắn gọn và dễ nhớ hơn nhiều so với Amazon, Youtube hay Google.
Liệu ta có nên tuân thủ theo tư duy logic để đổi tên Amazon thành Book.com, Youtube thành Video.com và Google thành Search.com?
Nếu đi theo tư duy logic, ta sẽ mất đi ba thương hiệu giá trị bậc nhất trên thế giới hiện nay. Tư duy logic đôi khi hoàn toàn đối ngịch với tư duy marketing, tư duy có thể tạo nên những thương hiệu sáng giá.

Giải mã tên thương hiệu “tốt”

Dĩ nhiên, những cái tên tốt, trùng với những từ khóa nóng luôn có những ưu thế nhất định. Đó là lý do tại sao Sex.com lại trở thành tên miền đắt giá nhất thế giới với mức giá lên tới 13 triệu USD.

Thế nhưng, để tạo dựng được một thương hiệu thực sự nổi bật, suy nghĩ theo logic là không đủ.

Logic sẽ nói rằng Search.com là một cái tên đáng giá hơn Google.com. Hãy thử giải mã tại sao Search.com lại không đáng giá đến vậy! Mặc dù điều này có vẻ đi ngược lại với tư duy logic.

Hãy mường tượng ra một đoạn hội thoại. A: “Search thông tin trên mạng đi”. B: “Tôi nên search ở trang nào?”. A: “Trang search”. B: “Biết rồi, nhưng search ở trang nào?”.

Trong khi đó, câu hội thoại trên sẽ đơn giản chỉ là: “Google thông tin trên mạng đi”. Ai cũng hiểu là sẽ phải vào trang Google.com.

Clear theo tiếng Anh có nghĩa là Sạch. Unilever đã tung ra chiến dịch trị giá lên tới 250 triệu USD để marketing thương hiệu Clear ra toàn cầu với gương mặt đại diện là ngôi sao Heidi Klum, một ngân sách lớn và một gương mặt đại diện sáng giá. Tuy nhiên, mãi lực của Clear chỉ lớn tại những quốc gia không nói tiếng Anh cùng với lý do trên.

Ngành mỹ phẩm thì sao? Hãng Menley & James đã giới thiệu ra thị trường một dòng mỹ phẩm với một cái tên khó có thể tốt hơn: Love. Đi cùng với cái tên Love là một ngân sách marketing khủng: 7 triệu USD (tương đương với khoảng 50 triệu USD ngày nay tính theo trượt giá). Số phận của Love bây giờ ra sao? Không ai quan tâm!

Cái tên tốt đôi khi không giúp ích gì cho hoạt động kinh doanh của bạn.

Thực tế cho thấy zing.vn thành công chứ không phải mangxahoi.vn, vnexpress.net được nhiều người xem chứ không phải tinnhanh.net, cafef.vn phổ cập chứ không phải thongtintaichinh.vn.

Trường hợp của Google là điều đáng mơ ước đối với bất kỳ một thương hiệu nào. Bởi Google đã tạo nên một từ mới với hàm nghĩa: “tìm kiếm thông tin trên mạng”. Khi nó đã mang một ý nghĩa mới mẻ, chỉ cần nói google, ai cũng sẽ hiểu!

Ở nước ta, sự xuất hiện trở lại của thương hiệu Bata là một điều đáng chú ý với giới marketing. Bata đã làm được điều mà Google làm ở bình diện quốc gia Việt Nam: tên bata đã tạo nên một nghĩa mới, đại diện cho một chủng loại giày. Cũng như từ Honda đã được sử dụng với hàm nghĩa “xe gắn máy” ở nước ta. “Tôi đi xe Honda” nghĩa là “Tôi đi xe máy”, kể cả đó là nhãn hàng xe máy Yamaha, Suzuki. Đó là vũ khí tối thượng của Honda tại thị trường Việt Nam.

Nếu dùng một từ đã có ý nghĩa cũ, việc tạo ra một lớp ý nghĩa mới tương tự là không thể.

Hoặc bạn có thể làm theo cách khác. Chọn một từ và tạo nên một ý nghĩa thứ hai, ý nghĩa của thương hiệu…

Tạo lớp nghĩa thứ hai

Một từ luôn có nhiều hơn một ý nghĩa. Những người làm marketing có thể tạo nên một từ hoàn toàn mới cho thương hiệu kiểu như Google, Zing, Groupon hoặc đơn giản hơn là sử dụng một từ cũ với hàm nghĩa mới.

Tuyệt phẩm điện ảnh Forrest Gump nằm trong danh sách 100 bộ phim hay nhất mọi thời đại có đoạn tự thoại của nhân vật Forrest Gump: “Tôi rất thích táo. Vậy nên khi có một công ty có tên là Apple niêm yết trên sàn chứng khoán, tôi đã mua phần lớn cổ phần của công ty bán táo đó. Số cổ phần đó đã khiến tôi trở nên giàu có”.

Dĩ nhiên, chỉ chàng Forrest Gump ngờ nghệch và nhân hậu mới nghĩ rằng mình mua cổ phần của Apple nghĩa là một công ty bán táo. Còn chúng ta đều hiểu chàng đã mua cổ phần của thương hiệu Apple, công ty sở hữu máy tính Mac, iPod, iPhone và iPad. Apple đã tạo nên một ý nghĩa mới: Thương hiệu Apple hoặc vẫn là Quả táo theo ý nghĩa nằm trong từ điển.

Trong thương mại điện tử, người ta sẽ hiểu Alibaba là trang tìm kiếm mạnh nhất bằng tiếng Trung chứ không phải là chàng Alibaba trong câu chuyện Ngàn lẻ một đêm. Người ta sẽ hiểu Amazon là “nhà sách lớn nhất trên hành tinh” chứ không phải dòng sông Amazon ở Nam Mỹ. eBay đương nhiên không phải là một cái Vịnh E mà là trang đấu giá lớn nhất toàn cầu. DropBox không phải là nơi chúng ta vứt các vật dụng của mình vào mà là nơi cất giấu dữ liệu trên “đám mây” (cloud). Và cloud cũng không phải là “đám mây” vật lý mà là môi trường để mọi người lưu giữ, chuyển tải và trao đổi dữ liệu trên internet.

Qua quá trình phát triển, những thương hiệu trên đều đã mang cho mình một lớp nghĩa thứ 2: lớp nghĩa thương hiệu, hoàn toàn khác biệt so với lớp nghĩa ban đầu: lớp nghĩa từ vựng.

Cũng như vậy, ở nước ta, Trung Nguyên có thể được hiểu là vùng đất Trung Nguyên ở Trung Quốc (sic) hoặc “café Trung Nguyên”. OK có thể được hiểu là OK hoặc “bao cao su” v.v… Đó là những thương hiệu đã tạo nên một lớp nghĩa thứ hai, bổ sung cho ý nghĩa nguyên gốc từ từ được chọn làm thương hiệu.

Theo người viết, một cái tên tốt không phải là một cái tên đã có nghĩa đen quá rõ ràng, đặc biệt ở môi trường kinh doanh online. Đây là điều có thể khiến nhiều người đầu cơ tên miền nản lòng. Dẫu vậy, thực tế cho thấy, FaceBook, Groupon, Twitter, Zappos là những tên thương hiệu đáng giá chứ không phải socialnetwork.com, dailydeals.com, shortmessages.com hay shoes.com.

Dĩ nhiên, những nhà đầu cơ tên miền vẫn có thể hi vọng. Chẳng phải sex.com là tên miền đáng giá nhất thế giới đó sao!

Còn những người làm marketing đều tiên đoán được một tương lai đối với trang sex.com. Nó sẽ chẳng bao giờ là một thương hiệu mạnh, kiểu như PlayBoy…

Nguồn: doanhnhansaigon.vn